Đối thoại của Việt Nam với các nước về dân chủ, nhân quyền

Các kết quả tích cực mà Việt Nam đạt được qua đối thoại về quyền con người đã góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược là duy trì ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy quan hệ với các đối tác, trong đó có nhiều nước lớn, đảm bảo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

1. Dân chủ, nhân quyền trong quan hệ quốc tế

Là một trọng tâm song song với các vấn đề quốc tế nổi trội hàng đầu như hòa bình, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội và môi trường, dân chủ, nhân quyền được gắn kết vào hầu hết các vấn đề quốc tế: từ giải quyết xung đột, không phổ biến vũ khí hủy diệt đến các vấn đề văn hóa, dân số, thương mại và viện trợ phát triến... Dân chủ, nhân quyền thu hút sự quan tâm rộng rãi của các nhà nước, thiết chế, tổ chức và cộng đồng, được giới học giả đi sâu nghiên cứu và ngày càng có vị trí nổi bật tại các diễn đàn song phương và đa phương, trong đó có Liên hợp quốc. Mặc dù việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm của mỗi quốc gia, song vai trò nổi bật của nhân quyền trên phạm vi quốc tế cho thấy đây là nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhiều nước và cũng là vấn đề phản ánh sự khác biệt trong cách tiếp cận của các nước, nhóm nước khác nhau.

Quyền con người được chia thành hai nhóm chính là nhóm quyền dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Việc Liên hợp quốc thông qua hai công ước nhân quyền chủ chốt vào năm 1966 là Công ước về Các quyền dân sự, chính trị và Công ước về Các quyền kinh tế xã hội, văn hóa cũng là kết quả của quá trình vận động và thúc đẩy sự hình thành hai nhóm quyền này. Mặt khác, chính quá trình vận động, thúc đẩy đó đã phản ánh sâu sắc những đặc thù riêng về chính trị, trình độ phát triển, giá trị văn hóa, đạo đức, tôn giáo, truyền thống lịch sử của các nước trên thế giới, cũng như quan điếm khác biệt giữa các nước phương Tây và các nước đang phát triển.

Với xu hướng tuyệt đối hóa các quyền tự do cá nhân và coi đây là thước đo về dân chủ, nhân quyền của một quốc gia, các nước phương Tây còn xem “nhân quyền cao hơn chủ quyền” và biến nhân quyền thành khuôn mẫu phổ cập để áp đặt trên phạm vi toàn cầu, thực chất để tìm cách áp đặt mô hình dân chủ, nhân quyền của chính mình. Với chính sách tăng cường can thiệp vào vấn đề nhân quyền ở các nước, các nước phương Tây thường sử dụng dân chủ, nhân quyền như những yếu tố để ràng buộc làm điều kiện cho việc thúc đẩy quan hệ với các nước đang phát triển.

Trong khi đó, nhóm nước đang phát triển đề cao các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, coi đây là nền tảng cho nhóm quyền thứ ba không kém phần quan trọng là quyền phát triển, đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện các quyền con người khác. Xuất phát từ đặc thù văn hóa, xã hội, lịch sử và truyền thống của mình, các nước đang phát triển cũng cho rằng dân chủ, nhân quyền cần được đặt trong mối quan hệ tổng thể, chặt chẽ và cân bằng giữa các nhóm quyền; đặc biệt, quyền và tự do cá nhân không thể tách rời trách nhiệm, nghĩa vụ với xã hội, cộng đồng và dân tộc. Do đó, bên cạnh thái độ dung hòa và công nhận tính phổ cập của các giá trị nhân quyền, các nước đang phát triển nhấn mạnh việc thực hiện quyền con người không thể bị áp đặt, mà phải tính đến những nét đặc thù của từng khu vực, quốc gia.

Do sự khác biệt trong cách tiếp cận, nên vấn đề dân chủ, nhân quyền đã và đang là đề tài gây tranh cãi trên các diễn đàn đa phương và trong mối quan hệ đan xen giữa các nước trên thể giới.

Dân chủ, nhân quyền là vấn đề ưu tiên trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của các nước phương Tây. Trong đối ngoại, cùng với việc đề cao mô hình chính trị của mình, các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ và EU, thường sử dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo làm phương thức để gây sức ép với các nước đang phát triển, áp đặt điều kiện đối với viện trợ kinh tế và phát triển trong quan hệ song phương. Vì vậy, việc thúc đẩy dân chủ, nhân quyền và tôn giáo đã trở thành một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt kể từ nhiệm kỳ của Tổng thống Jimmy Carter năm 1978, và là “hòn đá tảng” trong quan hệ hợp tác của EU với các nước, như được ghi nhận trong Tuyên bố về Nhân quyền thông qua tại cuộc họp của Hội đồng châu Âu tại Luc-xăm-bua (Luxembourg) tháng 6-1991. Ðồng thời, do sự khác biệt về ý thức hệ và chế độ chính trị giữa phương Tây và một số nước, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa, Mỹ và phưong Tây sử dụng dân chủ, nhân quyền như là một công cụ tinh vi để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa binh”, tác động vào nội bộ nhằm chuyển hoá xã hội các nước theo mô hình phương Tây.

Dân chủ, nhân quyền, một mặt, phản ánh sự khác biệt giữa các nước, nhóm nước và có thể dẫn đến mâu thuẫn, đấu tranh gay gắt trên diễn đàn và trong quan hệ quốc tế như nêu trên, mặt khác, trong nhiều trường hợp bị lợi dụng để gây sức ép nhằm các mục tiêu kinh tế - chính trị khác. Vì vậy, việc xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền có ý nghĩa tích cực, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp sự cách biệt giữa các quốc gia, giải tỏa bất đồng và giảm thiểu khả năng xung đột, từ đó mở ra cơ hội để tăng cường hợp tác và trao đổi giữa các bên liên quan. Đồng thời, đối thoại cũng là kênh đấu tranh trực tiếp đối với những luận điệu sai lệch, thiếu khách quan. Do đó, hợp tác quốc tế và thiết lập đối thoại về dân chủ, nhân quyền đã trở thành một nội dung được đề cao trong chính sách đối ngoại của nhiều nước. Trên thực tế, cơ chế đối thoại đã hình thành khá rõ trong những năm qua giữa các nước phương Tây với nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Thậm chí ngay giữa các nước phương Tây như Mỹ và EU cũng có thể thiết lập kênh đối thoại, trao đổi và hợp tác về nhân quyền với nhau.

Xu thế đối thoại về dân chủ, nhân quyền cũng nằm trong xu thế đối thoại nổi lên tại các diễn đàn quốc tế và khu vực nhằm hướng tới giải quyết các cuộc xung đột, tăng cường ý niệm chung sống hài hòa trong xã hội đa bản sắc và thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung, tôn trọng lẫn nhau. Điển hình là một số diễn đàn đối thoại giữa các nền văn hóa, văn minh và tôn giáo ở nhiều cấp độ quốc tế và khu vực (các nước châu Á - Thái Bình Dương) hoặc liên khu vực (diễn đàn Á - Âu ASEM) được tổ chức hằng năm với mục tiêu chung là tăng cường hiểu biết và thúc đẩy hợp tác vì hòa bình.

2. Quan điểm và phương châm của Việt Nam trong đối thoại bảo vệ quyền con người

Xác định con người vừa là mục tiêu và động lực của sự nghiệp phát triển đất nước, vừa là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm phấn đấu phục vụ con người và vì con người. Những thành quả quan trọng mà Việt Nam đạt được qua hơn 20 năm đổi mới về mọi mặt, trong đó có lĩnh vực quyền con người, là minh chứng rõ rệt cho chính sách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Ðảng và Nhà nước Việt Nam. Những thành tựu này đã được cộng đồng quốc tế và các nước ghi nhận.

Từ thực tiễn đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc, Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm rằng nhân quyền trước hết phải là quyền của mỗi người, mỗi dân tộc được thực hiện quyền tự quyết, được sống trong độc lập, tự do và được phát triển về mọi mặt; các quyền dân sự, chính trị phải đi đôi với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; quyền và tự do cá nhân phải gắn với lợi ích chung của dân tộc và trách nhiệm đối với cộng đồng. Bảo đảm và thực hiện quyền con người trước hết là trách nhiệm quốc gia, không thể có sự áp đặt từ bên ngoài. Do đó, đối với những nước có quan điếm khác ta trong vấn đề dân chủ, nhân quyền, đối thoại là một phương thức quan trọng để giải tỏa những thông tin thiếu khách quan, qua đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy quan hệ hợp tác, phát triển. Nền tảng cơ bản để chúng ta sẵn sàng đối thoại với các nước, các tố chức có quan tâm về dân chủ, nhân quyền chính là chủ trương nhất quán bảo đảm và thúc đẩy quyền con người mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: chúng ta “chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người”; “sẵn sàng đối thoại với các nước, các tố chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề quyền con người”, đồng thời “phải kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thố, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”. Chỉ thị 12 (1992) của Ban Bí thư về “Quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” cũng nêu “sẵn sàng tỏ thiện chí hợp tác trong quan hệ quốc tế vì quyền con người, đồng thời đấu tranh với những âm mưu lợi dụng vấn đề này để chống phá ta”.

 

Với tư tưởng chủ đạo đó, ta chủ động tiến hành đối thoại với các nước có quan tâm để làm rõ chủ trương, chính sách và thực tiễn về quyền con người ở Việt Nam, bảo vệ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về chủ quyền quốc gia, quyền tự quyết dân tộc và quyền lựa chọn con đường phát triển của mỗi dân tộc, chống việc lợi dụng vấn đề nhân quyền đề can thiệp công việc nội bộ của một nước. Ðối thoại cũng nhằm mục tiêu lâu dài là giảm thiểu bất đồng, tăng cường hiểu biết lẫn nhau và góp phần thúc đấy quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và các nước. Đồng thời, chúng ta xác định rõ đối thoại là kênh để bác bỏ những thông tin, luận điệu sai lệch, thiếu căn cứ, thậm chí xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam do các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước dựng lên để chống phá ta.

Cho đến nay, ta đã thiết lập cơ chế đối thoại về dân chủ, nhân quyền và tôn giáo hàng năm với 5 đối tác là Mỹ, EU, Ô-xtrây-li-a, Thụy Sĩ và Na-uy (riêng với EU, do cơ chế Chủ tịch Troika luân phiên 6 tháng/lần, đối thoại được tiến hành hai lần một năm).

Trong đối thoại, tùy ưu tiên của từng nước, tại từng thời điểm khác nhau, mỗi nước có quan tâm và cách đề cập khác nhau về dân chủ, nhân quyền, song những vấn đề các nước thường nêu trong đối thoại với ta về cơ bản không khác nhau nhiều. Thực tế này phản ánh đặc thù của các nước phương Tây trong quan điểm và cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền, đó là luôn tập trung nhấn mạnh nhóm quyền dân sự, chính trị và tự do cá nhân theo hướng đề cao các mô hình dân chủ, nhân quyền mà các nước này áp dụng.

Đối thoại cho thấy, quan tâm chính của các nước là muốn Việt Nam “nới lỏng” hạn chế đối với các quyền dân sự, chính trị và đẩy mạnh các quyền tự do cá nhân theo các chuẩn mực của xã hội phương Tây. Một số vấn đề nổi lên qua các cuộc đối thoại là tự do ngôn luận, báo chí gắn với vấn đề an ninh quốc gia; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; cải cách hệ thống tư pháp; quan tâm về một số trường hợp mà Mỹ, phương Tây cho rằng bị ta bắt giữ, xét xử vì lý do “chính trị”.

Mỹ và các nước phương Tây cũng thường xuyên tỏ ý phê phán các quy định pháp luật liên quan đến an ninh quốc gia của Việt Nam; cho rằng các điều khoản này của ta chưa phù hợp luật pháp quốc tế, chưa phân biệt rõ các hoạt động bạo lực với phi bạo lực và đòi ta phải thay đổi những điều khoản này theo đúng các “chuẩn mực quốc tế”.

Trên lĩnh vực tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặc dù ghi nhận ta đạt nhiều “tiến bộ”, song các nước phưong Tây vẫn đánh giá Việt Nam còn hạn chế các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; cấm hoạt động đối với các tố chức tôn giáo không được Nhà nước “bảo hộ”, hạn chế việc đào tạo, đi lại của giáo sĩ tôn giáo; kiểm duyệt chặt chẽ việc xuất bản các ẩn phẩm tôn giáo v.v...

Trên khía cạnh tư pháp, các nước phương Tây cũng thường “khuyến khích” ta cải cách hệ thống pháp luật cho “phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế” về dân chủ, nhân quyền, đồng thời “bảo đảm tính độc lập” của cơ quan tư pháp trong điều tra và xét xử. Ðiều này cho thấy những nỗ lực tích cực của Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian qua vẫn chưa được các nước phưong Tây nhìn nhận đúng mức.

Một nội dung mà Mỹ và các nước phương Tây thường nêu trong đối thoại là đề nghị Việt Nam cung cấp thông tin, giảm án, cho đi thăm, hoặc nhiều nhất và gần đây nhất là đề nghị Việt Nam trả tự do cho các đối tượng, trong đó phần lớn là các đối tượng có những hành động xâm phạm an ninh quốc gia nhằm lật đổ Nhà nước Việt Nam.

Ngoài ra, qua đối thoại các nước còn tỏ quan tâm về một số lĩnh vực như án tử hình (đặc biệt là EU, với đề nghị ta giảm và tiến tới xóa bỏ án này), chống tra tấn, việc bảo đảm quyền cho người dân tộc thiểu số, vấn đề lao động, bình đẳng giới và phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em v.v...

Thực chất cho thấy, các vấn đề thường được nêu trong đối thoại đều là những nội dung được các nước phương Tây đề cập dưới hình thức và mức độ khác nhau trong các báo cáo (như báo cáo thường niên về nhân quyền, tôn giáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, báo cáo tự do tôn giáo của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ) hay trong các dự luật, nghị quyết, thông cáo (của Quốc hội Mỹ, Quốc hội các nước châu Ấu)... Đáng chú ý, đây cũng là những vấn đề mà các lực lượng thù địch và các tổ chức phi chính phủ có thái độ xấu với Việt Nam luôn tìm cách bôi nhọ, đưa tin tiêu cực, thiếu căn cứ với dụng ý nhằm tác động, gây sức ép lên chính giới các nước phương Tây và cộng đồng quốc tế đề có “biện pháp” với Việt Nam.

Trên cơ sở xác định rõ phương châm đối thoại thiện chí, mềm dẻo, sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không áp đặt quan điểm và can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, Việt Nam chủ trương đối thoại trước hết là để cung cấp thông tin và tình hình thực tế nhằm giúp các nước hiểu rõ về chính sách, pháp luật cũng như những nỗ lực của Nhà nước ta trong việc bảo đảm dân chủ và các quyền con người cho nhân dân, mặt khác, ta kiên trì giải thích từng vấn đề các nước nêu để vừa tỏ thiện chí hợp tác, vừa bác bỏ những luận điệu phiến diện, thiếu khách quan.

Trong các cuộc đối thoại, Việt Nam luôn đề cao sự cần thiết phải thực hiện hài hoà các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá. Bên cạnh đó, ta nêu đậm sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam so với các nước, đặc biệt là Mỹ và phương Tây, để từ đó khẳng định sự khác biệt trong cách tiếp cận về nhân quyền giữa Việt Nam và các nước. Ðồng thời, ta nhấn mạnh nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền quốc gia, không sử dụng vấn đề nhân quyền để áp đặt quan điểm và can thiệp công việc nội bộ của nhau. Cơ chế đối thoại cũng tạo điều kiện để Việt Nam đề cập quan tâm về những vấn đề nhân quyền ở các nước, tìm hiểu chính sách của các nước trong những vấn đề liên quan.

Chúng ta khẳng định chính sách của Nhà nước Việt Nam là luôn coi trọng và thúc đẩy các quyền con người, coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trên tinh thần đó, trong những năm vừa qua, Nhà nước Việt Nam đã chú trọng thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; đồng thời coi trọng việc phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy công bằng và an sinh xã hội... Những nỗ lực này được sự ủng hộ, tham gia rộng rãi của nhân dân đã đem đến nhiều đổi thay tích cực trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Trong đối thoại, ta dùng thực tiễn để phản bác những điểm sai trái trên từng lĩnh vực các nước nêu thông qua việc cung cấp thông tin về tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có việc xây dựng, sửa đổi bổ sung và ban hành các văn bản luật quan trong liên quan đến quyền con người và các cơ chế thực hiện, nêu đậm thành tựu và sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam trên mọi mặt. Ðó là cơ sở để chúng ta bác bỏ nhận định cho rằng thời gian gần đây việc đảm bảo các quyền dân sự, chính trị tại Việt Nam có chiều hướng “đi xuống”, và phê phán nội dung tiêu cực, thiếu khách quan của các dự luật, nghị quyết và báo cáo của chính giới các nước phương Tây về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Ðối với những cáo buộc tiêu cực về việc Việt Nam vi phạm quyền con người, thì thực tế sinh động của hoạt động báo chí, tốc độ phát triển của mạng internet, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, đa dạng của người dân và các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, cũng như sự tham gia ngày càng chủ động, tích cực của người dân trong các cơ chế giám sát hoạt động của Nhà nước được nêu trong đối thoại chính là câu trả lời rõ ràng và hiệu quả nhất.

Tuy nhiên, ta cũng khẳng định rõ việc thực hiện các quyền và tự do của mỗi cá nhân đều phải trong khuôn khổ pháp luật và không ai có quyền đứng trên pháp luật. Những cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xét xử theo pháp luật, đây là việc làm bình thường của mọi quốc gia trên thế giới trong khuôn khổ nhà nước pháp quyền. Đối với các đối tượng mà Mỹ và các nước phương Tây quan tâm, ta chủ động đưa ra những bằng chứng vi phạm pháp luật, khẳng định đây không phải các nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền mà là những cá nhân được sự hậu thuẫn của một nhóm nhỏ người Việt ở nước ngoài tìm cách lật đổ Chính phủ Việt Nam, hằn học với những thành tựu của đất nước, đi ngược lại mong muốn chung của cộng đồng người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Ta nhấn mạnh, các nước đều có chính sách và biện pháp để đảm bảo an ninh quốc gia, vì đây là nền tảng hàng đầu để duy trì hoà bình, ổn định và trật tự an toàn xã hội; do vậy, các nước cần tôn trọng quan điểm của Việt Nam, coi trọng luật pháp và sự thực thi luật pháp của Việt Nam như Việt Nam tôn trọng quan điểm của các nước.

Bên cạnh những nguyên tắc, quan điểm và khuôn khổ chung, ta cũng đối thoại với mỗi nước, đối tác trên cơ sở mối quan hệ cụ thể và những đặc thù của nước, đối tác đó.

Với Mỹ, đối thoại nhân quyền gắn với tiến trình quan hệ chính trị Việt - Mỹ theo từng giai đoạn. Khó khăn trong đối thoại còn xuất phát từ việc phe cực hữu và số Việt kiều phản động ở Mỹ luôn luôn tìm cách gây sức ép, cản phá quan hệ hai nước và thúc đẩy các ý đồ xấu chống ta. Do đó, đối thoại diễn ra ở những cấp độ khác nhau, khi cứng rắn hoặc thậm chí có phần căng thẳng, lúc nhẹ nhàng, chừng mực. Trên cơ sở bình đẳng của đối thoại, ngoài cung cấp thông tin và lập luận để trả lời những quan tâm của phía Mỹ về những vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, ta cũng chủ động đấu tranh, gắn vấn đề trách nhiệm của Mỹ đối với các nạn nhân chiến tranh và nạn nhân chất độc màu da cam. Bên cạnh đó, ta nêu quan tâm về những vấn đề còn đang tồn tại ngay trong lòng nước Mỹ như tình trạng kỳ thị tôn giáo, nhất là đạo Hồi, đặc biệt từ sau sự kiện 11-9, tình trạng nghèo đói, phân biệt đối xử với người da màu... và khuyến nghị Chính phủ Mỹ xem xét phê chuẩn Công ước Các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá của Liên hợp quốc để đảm bảo tốt hơn các quyền này cho người dân. Ðáp lại, phía Mỹ thừa nhận nước Mỹ chưa phải là bức tranh hoàn hảo, nhiều vấn đề vẫn còn tồn tại và Mỹ cũng bị chỉ trích trên nhiều phương diện.

Với EU, ta kiên trì lập trường nguyên tắc về các vấn đề dân chủ, nhân quyền, nhấn mạnh quyền độc lập và tự quyết của các dân tộc là điều kiện tiên quyết đế đảm bảo nhân quyền. Ta cũng phê phán cách đề cập “tiêu chuẩn kép” về nhân quyền của phương Tây và chủ động nêu một số vụ việc vi phạm nhân quyền tại các nước EU, ví dụ vấn đề phân biệt đổi xử với người nhập cư, nhất là ở khu vưc Tây Âu; các vụ bạo hành của cánh sát đối với tù nhân trong trại giam; nạn bạo lực gia đình tại một số nước... EU thừa nhận việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền cần phù hợp với đặc thù của từng nước và nhất trí cần nhìn nhận vấn đề nhân quyền trên quan điểm tổng thể.

Nhìn chung, các cuộc đối thoại được tiến hành trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Các nước đề cao tầm quan trọng của cơ chế đối thoại, ghi nhận những tiến triển Việt Nam đã đạt được và khẳng định mong muốn tiếp tục đối thoại một cách toàn diện, xây dựng và có kết quả. Các nước cũng khẳng định đối thoại giúp tăng cường hiểu biết, giảm bất đồng và qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Ðồng thời, cũng thông qua đối thoại, các nước nhận thức rõ hơn lợi ích tổng thể trong quan hệ với Việt Nam.

Song song với cơ chế đối thoại chính thức với các nước, Việt Nam cũng tiến hành nhiều bước đi tích cực và chủ động trong hợp tác quốc tế và đối thoại: mở cơ chế đối thoại kênh hai giữa các tổ chức quần chúng nhân dân, học giả để tăng cường trao đổi và thông tin về vấn đề nhân quyền, tôn giáo; chủ động soạn thảo và ban hành cẩm nang về nhân quyền, sách trắng về thành tựu thúc đẩy và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam; sách trắng về tôn giáo; đăng cai tổ chức một số hội thảo quốc tế và phối hợp với các nước đối thoại tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế như Hội thảo về Công ước chống tra tấn, Hội thảo về án tử hình; Hội thảo quốc tế về nhân quyền do Trung Quốc, Na-uy và Ca-na-đa bảo trợ, Hội thảo về vấn đề tư pháp hình sự và buôn bán người... Ta cũng tổ chức các lớp tập huấn về các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam tham gia, chủ động đón các đoàn nước ngoài vào Việt Nam để thảo luận về các vấn đề liên quan đến nhân quyền, tôn giáo, tạo điều kiện cho các đoàn và các cơ quan đại diện của các nước và nhà báo nước ngoài đi thăm các địa phương; cử nhiều đoàn chức sắc tôn giáo, nghị sĩ, các đoàn liên ngành sang các nước để trao đổi, vận động, trực tiếp đối thoại... Việc chúng ta chủ động mời và chuẩn bị đón một số báo cáo viên đặc biệt và chuyên gia độc lập của Liên hợp quốc về nhân quyền vào thăm Việt Nam cũng là một động thái tích cực được các nước ghi nhận và đánh giá cao.

Với những bước đi chủ động, tích cực và đa dạng nêu trên trong hợp tác quốc tế và đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, chúng ta đã làm sáng tỏ chính sách của Nhà nước Việt Nam trong các lĩnh vực liên quan, tác động tốt tới dư luận quốc tế, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; mặt khác, giảm thiểu đến mức tối đa sức ép từ bên ngoài chống Việt Nam và vô hiệu hoá các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch. Các kết quả tích cực mà Việt Nam đạt được qua đối thoại về quyền con người đã góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược là duy trì ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy quan hệ với các đối tác, trong đó có nhiều nước lớn, đảm bảo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

Phạm Bình Minh 

Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam.

(Theo Tạp chí Cộng sản - năm 2010)

© 2014 Sở ngoại vụ. All rights reserved.

® Chỉ được phát hành lại thông tin từ website này khi có sự đồng ý bằng văn bản của sở.

Địa chỉ : Số 2187 - đường Hùng Vương - T.P Việt Trì - tỉnh Phú Thọ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp số 07/GPTTĐT-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Phú Thọ cấp ngày 03/7/2014.

Chịu trách nhiệm chính: Ông Đỗ Ngọc Dũng - Giám đốc Sở

Tel: 02103.3843.222 - Fax: 0210.3868.875 - Email: ngoaivuphutho@gmail.com